Trung tâm y tế huyện Hải Hà

Corona

HƯỞNG ỨNG TUẦN LỄ GLÔCÔM 06-12/03/2022

Đăng lúc: Chủ nhật - 13/03/2022 21:58 - Người đăng bài viết: Trung tâm y tế huyện Hải Hà
HƯỞNG ỨNG TUẦN LỄ GLÔCÔM THẾ GIỚI: “HÃY ĐẾN KHÁM MẮT ĐỂ PHÁT HIỆN BỆNH GLÔCÔM”
Glôcôm là một trong những bệnh phổ biến về mắt, đứng hàng thứ hai trong nhóm các nguyên nhân có thể gây mù lòa tại nhiều quốc gia trên toàn thế giới.
Theo các nghiên cứu dự báo số lượng bệnh nhân glôcôm sẽ tăng lên đáng kể vào những năm tới, ước tính sẽ có khoảng 80 triệu người mắc bệnh glôcôm vào năm 2020, chiếm tỷ lệ 2,86% ở những người hơn 40 tuổi trên toàn cầu, trong đó 11,2 triệu người bị mù do bệnh.
Nguyên nhân gây bệnh Glôcôm trong tất cả các trường hợp là do thủy dịch bị tích tụ lại trong mắt, bởi kênh đào thải chất dịch này bị chặn lại, làm áp suất trong mắt tăng cao. Lâu dài áp suất này sẽ gây tổn thương đến hệ thống dây thần kinh thị giác, từ đó làm giảm hoặc mất thị lực hoàn toàn.
Một số triệu chứng lâm sàng của bệnh Glôcôm góc mở
Glôcôm góc mở nguyên phát là một hội chứng gồm tổn thương đầu thị thần kinh liên quan tới góc tiền phòng mở và nhãn áp tăng hoặc đôi lúc ở mức trung bình. Các triệu chứng là kết quả của tổn hại thị trường. Chẩn đoán dựa vào soi đáy mắt, soi góc tiền phòng, đánh giá thị trường, đo chiều dày giác mạc trung tâm và đo nhãn áp. Điều trị bao gồm các loại thuốc tra (ví dụ, tương tự prostaglandin, chẹn beta) và thường yêu cầu phải laze hoặc phẫu thuật để tăng thoát thủy dịch.

Nguyên nhân
Mặc dù glôcôm góc mở có thể có nhiều nguyên nhân (xem Bảng: Glôcôm góc mở: Phân loại dựa trên các cơ chế nghẽn lưu thông thủy dịch*), nhưng 60 đến 70% trường hợp ở Hoa Kỳ không xác định được nguyên nhân và được gọi là glôcôm góc mở nguyên phát. Cả hai mắt thường bị ảnh hưởng, nhưng không đều nhau.
Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh glôcôm góc mở nguyên phát gồm:
- Cao tuổi
- Có tiền sử gia đình
- Gốc châu Phi
- Mỏng giác mạc trung tâm
Tăng huyết áp
Đái tháo đường
Cận thị
Ở người gốc Phi, glôcôm trầm trọng hơn và phát triển ở độ tuổi sớm hơn, và có khả năng gây mù nhiều hơn gấp 6 đến 8 lần.
Sinh lý bệnh
Nhãn áp có thể tăng hoặc ở mức trung bình.
Glôcôm nhãn áp cao
Hai phần ba bệnh nhân glôcôm có nhãn áp tăng > 21 mm Hg). Lưu lượng thoát thủy dịch giảm trong khi lưu lượng sản xuất bình thường. Không rõ cơ chế (ví dụ: glôcôm góc mở thứ phát). Các cơ chế thứ phát bao gồm dị tật phát triển, sẹo gây ra bởi chấn thương hoặc nhiễm trùng, và tắc ống do bong biểu mô mống mắt (tức là hội chứng phân tán sắc tố) hoặc các lắng đọng protein bất thường (ví dụ, hội chứng giả bong bao).
Glôcôm nhãn áp thấp hoặc bình thường
Ít nhất một phần ba bệnh nhân bị tăng nhãn áp, nhãn áp nằm trong phạm vi trung bình, nhưng tổn thương thần kinh thị giác và tổn thương thần kinh thị giác điển hình của bệnh tăng nhãn áp hiện nay. Những bệnh nhân này có tỷ lệ mắc các bệnh mạch máu cao hơn (ví dụ như chứng đau nửa đầu, hội chứng Raynaud) so với dân số nói chung, cho thấy rối loạn mạch máu làm suy yếu lưu lượng máu đến dây thần kinh thị giác có thể đóng một vai trò. Glôcôm có nhãn áp trung bình phổ biến hơn ở người châu Á.

Triệu chứng cơ năng và thực thể
Glôcôm góc mở nguyên phát thường không biểu hiện triệu chứng sớm. Thông thường, bệnh nhân cảm nhận được thị trường bị thu hẹp khi gai thị teo rõ; có sự chậm trễ này là ro sự tổn hại không đều của thị thần kinh hai bên. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có phàn nàn hay bị vấp ở cầu thang khi mất nửa dưới thị trường, phát hiện bị khuyết các góc của chữ khi đọc hoặc khó khăn khi lái xe sớm hơn trong diễn biến của bệnh.
Khám lâm sàng thấy góc mở trên soi góc, tổn hại đầu thị thần kinh và khuyết thị trường đặc trưng. Nhãn áp có thể bình thường hoặc cao nhưng hầu như luôn cao hơn trong mắt với tổn thương thần kinh thị giác nhiều hơn.
Thị thần kinh
Đầu thị thần kinh thường có đường kính dọc dài hơn một chút với phần lõm sinh lý ở trung tâm. Viền thần kinh là mô ở giữa viềm của lõm và bờ của đĩa thị chứa sợi trục của các tế bào hạch từ võng mạc.
Các thay đổi thần kinh thị giác đặc trưng bao gồm:
- Tăng tỷ lệ lõm: đĩa (đặc biệt là tỷ lệ tăng theo thời gian)
- Mỏng viền thần kinh
- Khuyết viền thần kinh
- Xuất huyết lớp sợi thần kinh vượt qua ranh giới đĩa (tức là xuất huyết Drance hoặc xuất huyết nhỏ hình dằm)
- Kéo dài theo chiều dọc
- Mạch máu gập góc khi đi ra khỏi đĩa thị (gọi là mạch máu hình lưỡi lê)
Sự mỏng của viền thần kinh (thần kinh thị giác hoặc lớp sợi thần kinh võng mạc) theo thời gian có giá trị chẩn đoán xác định glôcôm bất kể nhãn áp hoặc thị trường và là dấu hiệu tổn thương sớm trong 40 đến 60% trường hợp. Trong các trường hợp khác, dấu hiệu tổn thương sớm là một số biến đổi của thị trường.
Các vùng tổn hại lớp sợi hình chêm có thể tiến triển, phản tổn thương của lớp sợi thần kinh võng mạc.
Biến đổi thị trường do tổn hại của thị thần kinh gồm
- Các bậc thang phía mũi (không vượt qua đường ngang - một đường tưởng tượng giữa nửa trên và dưới của thị trường)
- Ám điểm hình cung mở rộng về phía mũi từ điểm mù
- Khuyết hình chêm phía thái dương
Ám điểm cạnh trung tâm
Ngược lại, sự tổn hại của đường dẫn truyền thị giác ở những vị trí gần với trung khu thị giác (tức là từ thể gối ngoài tới vỏ não thùy chẩm) gây ra khuyết góc tư hoặc khuyết nửa thị trường tôn trọng đường dọc.
Một số triệu chứng lâm sàng của bệnh Glôcôm góc đóng:
Bệnh glôcôm thường khởi phát đột ngột buổi chiều tối, hoặc khi bệnh nhân đang cúi xuống đọc sách, hoặc sau những sang chấn tinh thần mạnh,
Biểu hiện: mắt đột ngột đau nhức dữ dội từng cơn, lan lên nửa đầu cùng bên, bệnh nhân nhìn đèn thấy có quầng xanh đỏ như cầu vồng, thường buồn nôn hoặc nôn, đau bụng, vã mồ hôi, mắt đỏ lên và nhìn mờ ở nhiều mức độ, có thể chỉ mờ như nhìn qua màn sương nhưng cũng có thể giảm thị lực trầm trọng xuống còn đếm ngón tay hoặc bóng bàn tay. Sờ tay vào mắt thấy nhãn cầu căng cứng như hòn bi. Đôi khi bệnh nhân thấy sợ ánh sáng, chảy nước mắt nhưng không tiết rử mắt, mi mắt sưng nề, mắt đỏ theo kiểu cương tụ rìa, giác mạc phù nề mờ đục.
Khi có những triệu chứng như trên người bệnh nên đến ngay các bệnh viện chuyên khoa mắt hoặc các cơ sở y tế gần nhất để được khám mắt, đo nhãn áp và xử trí kịp thời. Nên khám mắt định kỳ 6 tháng/1 lần để kịp thời phát hiện các bệnh về mắt cũng như theo dõi tái khám thường xuyên, tuân thủ phác đồ điều trị của thầy thuốc khi đã mắc bệnh glôcôm.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Fanpage TTYT Hải Hà